bệnh rối loạn tiền đình

THEO TRUNG Y NỘI KHOA (Nhà xuất bản Tứ Xuyên Trung Quốc) chữa rối loạn tiền đình.

Về cách chữa rối loạn tiền đình này chia ra “Hư và Thực” để chữa.

A/ Chứng hư: Tức chứng khí và huyết cũng hư, thận khí hư không nạp khí về nguồn, như trực chỉ phương ở trên đã nói (mục 5 phần I dẫn kinh nghĩa đã nói) nên dùng phép tư dưỡng thận bao hàm chữa can ở trong, như phương “Thủ trung hoàn”. Mọi người bị mất máu huyết hư nên dùng phép bổ huyết nuôi gan như “Thang gia vị tứ vật”.

B/ Phương thang chữa rối loạn tiền đình.

  1. Thủ trung hoàn (kim quĩ rực phương)

a) Công dụng: Trị phong hư đầu não quay chuyển, hệ – mắt cấp, thốt nhiên ngã nhào.

b) Vị thuốc: Sinh địa – Bạch truật – Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) – Phục linh – Mạch đông – Cúc hoa.

c) Ý nghĩa phương này: Đây là thuốc tư dưỡng thận và can trong phương lấy Địa hoàng là chủ yếu, còn Nhân sâm, Bạch truật, Câu kỷ, Hoài sơn, Phục linh, Mạch đông tư bổ là phụ thêm – Cho cúc hoa để hòa can trừ phong, giúp thêm vào tư dưỡng thận can, để làm chậm cái đu đưa quay chuyển của can phong – nó là phương thuốc tốt để chữa thận khí hư sinh Huyễn vậng. Lấy dược lý hiện nay mà nói thì chính là để nuôi dưỡng thần kinh, giải trừ xây sẩm Huyễn vậng. Nếu là thiếu máu não mà sinh ra ngã nhào, choáng váng, nên thêm lượng Nhân sâm, Sinh địa, và thêm Phụ tử, Bạch thược, Đương quy; nếu chỉ dùng riêng như phương này nó chỉ có tác dụng củng cố cái gốc làm cho tỉnh táo con người.

2. Gia vị tứ vật khang (kim quĩ rực phương)

a) Công dụng: Trị huyết hư váng đầu, từ chỗ lõm sau đuôi lông mày (ngư vĩ) công lên làm choáng đầu.

b) Vị thuốc: Sinh địa – Đương quy – Bạch thược – Xuyên khung – Mạn kinh – Hoàng cầm – Cúc hoa – Chích thảo. Sắc uống.

c) Ý nghĩa phương thuốc: Đây là thuốc nuôi huyết dẹp tắt phong dùng “thang tứ vật” bổ huyết là chính, Hoàng cầm làm cho mát, Cúc hoa làm cho nhẹ đầu sáng mắt để bình can – Mạn kinh để trừ phong – Cam thảo, Bạch thược để hoãn hòa. Thực là phương thuốc chữa huyết hư sinh choáng đầu xây sẩm hay, theo dược lý hiện nay mà xét nó có công hiệu bổ máu, trì hoãn thần kinh, hoãn giải choáng đầu xây sẩm mặt mũi, nên chữa Huyễn vậng do thiếu máu tốt – Hơn nữa khung, qui là thuốc tốt để điều kinh, Hoàng cầm, Cúc hoa có thể tiêu viêm nên còn có thể chữa váng đầu do các loại viêm, váng đầu do phản xạ kỳ kinh của phụ nữ.

3. Cúc hoa tán (Chứng trị chuẩn thằng)

a- Công dụng: Trị phong nhiệt đau đầu, mắt hoa đen, mặt sưng.

b- Dược phẩm: Cam cúc hoa, Tuyền phúc hoa, Phòng phong, Chỉ sác (sao hơi vàng), Khương hoạt, Mạng kinh tử, Sinh thạch cao, Cam thảo (nướng) đều 1,5 đồng cân (1 phương có Ngưu bàng tử độc hoạt, không có Phòng phong, Chỉ sác, Mạn kinh tử, Sinh thạch cao).

c- Cách dùng: Giã dập, mỗi lần uống 5 đồng cân, nước trong 3 bát thêm gừng tươi 5 lát (có nơi 3 lát) sắc còn 1 bát, uống không kể lúc nào.

  1. Gia giảm tả thanh hoàn (Hồ Quang Từ)

a- Công dụng: Trị huyễn vậng do can hỏa bốc, váng đầu do cao huyết áp, khí thực ỉa rắn kết, mạch 3 bộ huyền cứng mà to, nhiệt cao.

b- Dược phẩm: Phòng phong, Long đởm thảo, Chi tử, Đại hoàng, Hoàng cầm, Ngưu tất, Sinh địa, Sài hồ, Thạch cao (30 gam) đều 10 gam. Mộc thông 20 gam.

c- Xét: Phương này vốn là phương “Tả thanh hoàn” của Tiền Ất, dùng chữa can đởm thực nhiệt, nhiều kinh sợ, không nằm ngủ yên, mắt nhìn chếch ngược, lòng đen nhỏ, lòng trắng thì xanh đỏ sưng đau, đại tiện không thông, ỉa ra máu, trẻ con cấp kinh co rút, đờm nhiệt, mắt nhìn thẳng trừng trừng. Gồm có các vị:

– Đương qui, Long Đởm thảo, Xuyên khung, Chi tử, Đại hoàng, Khương hoạt, Phòng phong, lượng bằng nhau cùng nghiền nhỏ luyện mật làm viên như hạt khiếm thực, mỗi lần uống nửa viên đến 1 viên, sắc nước là tre hòa đường uống với thuốc.

– Nay bỏ Đương qui, Xuyên khung, Khương hoạt gia thêm Hoàng cầm, Ngưu tất, Sinh địa, Sài hồ, Thạch cao, Mộc thông mà tổ chức nên phương này. Vì Long đởm, Chi tử, Hoàng cầm tả cái hỏa thịnh ở trên, Đại hoàng cho đi đại tiện để dẫn hỏa xuống, Ngưu tất hoạt huyết dẫn máu đi xuống, khỏi xung ngược lên đầu mặt, Phòng phong để dẫn máu trừ phong ở trên, sài hồ để bình can khí, giúp thêm cho Long đởm, Sinh địa làm mát máu, Mộc thông tiêu cái hỏa nhiệt theo đường tiểu tiện. Thạch cao tả vỵ hỏa, Vì vỵ là cái bể của kinh mạch, tả vỵ hỏa thì cái hỏa của các kinh cũng được ảnh hưởng mát lây, nên những chứng hỏa thịnh, can hỏa bốc, khí thực, nhiệt kết nên dùng.

  1. Thang khung tân đạo đàm

a) Công dụng: Trừ phong điều đờm, khoan khoái, trung tiêu, chữa nội phong đờm quyết choáng đầu.

b) Vị thuốc: Xuyên khung, Tế tân, Nam tinh, Trần bì, Phục linh, Bán hạ, Cam thảo, Chỉ sác, Sinh khương sắc uống.

c) Gia giảm: Nếu kiêm thấp có thể bỏ Nam tinh thêm Xương truật làm mạnh dạy dày, tăng tiến cơ năng của dạ dày, cho nên còn có thể dùng chữa xây sẩm choáng đầu do phản xạ cơ năng Vỵ tràng chướng ngại, có tác dụng mạnh dạ dày chấn trị đau.

d) Ý nghĩa phương thuốc: Phương này dùng Xuyên khung Tế Tân để trừ đầu phong, thang Nhị trần và Nam tinh để trừ đờm, Chỉ xác để khoan khoái trung tiêu nên làm thang thuốc chữa nội thương đờm quyết choáng đầu tốt.bệnh rối loạn tiền đình

E- NHẬN XÉT CHUNG:

Nói chung thì Huyễn vậng hay rối loạn tiền đình và chứng váng đầu do nội thương luôn luôn hiện tra cùng nhau. Trong sách vở Đông y tuy cho chứng này thuộc hư tới 8 – 9/10 còn thuộc thực chỉ có 1 – 2/10 thôi. Nhưng cũng có khi do phong đờm hỏa thịnh mà động, lên trên, không thể đại khái cho là hư mà chữa được. Nếu tham khảo Đông Tây y kết hợp mà lý giải thì chứng chủ yếu của Huyễn vận là đầu quay lộn, mặt xây sẩm sắc mặt xanh trắng, mạch vì tiểu mà yếu, tức y học hiện nay gọi là rối loạn tiền đình kiểu thiếu máu, là một chứng hậu thiếu máu não mà Đông ty gọi là chứng khí hư huyết hư. Đã bị hư thì phảo bổ, hoặc bổ khí thận để bao hàm bổ gan, hoặc bổ huyết dịch để nhu nhuận gan. Nếu thất tình đờm thấp làm rối loạn, phong hỏa, đờm thịnh mà động ở trên thì chứng hiện ra tất phải đau đầu xây sẩm chếnh choáng quay cuồng nhiều, hoặc sắc mặt trào hồng, mạch tượng huyền sác, hoặc nôn ra đờm rãi, mạch tượng huyền hoạt có sức, tức y học ngày nay gọi choáng đầu thần kinh, choáng đầu huyết áp, choáng đầu xung huyết, mà sách vở Đông y gọi là chứng thực đó. Song cái thực này là cái thực của tiêu vậy, cho nên người phong thịnh nên trừ phong để làm mát bên trên, người hỏa thịnh nên tả hỏa để bình can, người đờm thịnh nên điều đờm trừ phong để trị cái tiêu đó. Đó là phép biến vậy. Về phép cổ cũng có điều nên bắt chước, trong chứng do đờm người xưa chia ra tỳ đờm, nhiệt đờm, thấp đờm, phong đờm v.v… phép này nói chung đối với bệnh thuộc thực chữa tốt cả. Ví dụ như:

– Trị Huyễn vậng do tỳ có đờm dùng “Thang bán hạ bạch truật thiên ma”.

– Trị Huyễn vậng do nhiệt đờm dùng “Thang nhị trần” thêm Hoàng cầm.

– Trị phong đờm, hàn đờm thường dùng “Thang thanh châu bạch hoàn tử”. Trị thấp đờm hay dùng “Thang thận trước”.

Ngoài ra còn dùng đột Đại hoàng trị Huyễn vậng đến mức không chịu được, đó là chỉ những bệnh nhân có đờm hỏa ủng tắc ở trên là nên dùng thôi. Cũng như Cảnh Nhạc nói: “Chỉ người có đờm hỏa ủng tắc ở trên mới dùng”. Còn Huyễn vậng do Hư cũng nhiều cần phải phân ra mà chữa.

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *