chữa rối loạn tiền đình

ÔNG CẢNH NHẠC CHỮA RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH.

a- Luận chứng: Ông cho rằng chứng rối loạn tiền đình này thuộc hư tới 80% – 90%, Kiêm hỏa kiêm đờm chỉ có 10% – 20% – Ông còn chê Đan Khê nói: “không có đờm, không thể gây nên “Huyễn vậng”. Chữa gì Đan Khê cũng chữa đờm là chính, như vậy không toàn diện, tại sao Hiên, Kỳ không nói đến đờm – Ông cho chê bai Hà Gian bàn “Huyễn vậng” chỉ lấy câu kinh ở “chí chân yếu đại luận” nói: “Mọi phong xây sẩm đều thuộc can mộc” chữa “Huyễn vậng” mọi bệnh tình đều đổ cho can là không đúng – Hà Gian dẫn chứng từ phong biến thành hỏa, chỉ 2 chữ phong hỏa gây nên “Huyễn vậng” là sai lầm. Đành rằng phong chủ động, phong khí quá mà đầu quay cuồng mắt hoa là vì phong mộc vượng tất là kim suy không thể chế được mộc, mộc lại sinh ra hỏa, phong hỏa đều thuộc dương mà dương thì chủ động, hai cái động cùng bác kích nhau làm ra quay cuồng chao đảo mắt hoa như vậy.

b- Luận trị: Ông đề ra:

  1. Có chứng Tổn thương cái dương ở trong dương như mệt nhọc quá mức, no đói thất thường, nôn mửa tổn thương phần trên cơ thể. Tiết tả tổn thương phần dưới cơ thể, ra nhiều mô hôi mất chân dương, sợ hãi lo nghĩ, bị sỉ nhục uất ức, bi ai đau khổ… đều nên chữa khí như thang “Tứ quân tử” “ngũ quân tử tiễn”, “qui tỳ thang” “bổ trung ích khí thang” nếu kiêm nôn mửa uống “thánh truật tiễn” thêm nhiều Đảng sâm.
  2. Có chứng tổn thương cái dương ở trong âm như nôn máu, ra máu cam, ỉa ra máu, nhọt to vỡ mủ, đâm chém tổn thương mất máu đau cực độ, con trai túng dục bữa bãi mất tinh nhiều, phụ nữ sau đẻ mất máu v.v… thì nên bổ tinh như “ngũ phúc ẩm” “thất phúc ẩm” “tả, hữu qui ẩm” “Tứ vật thang”…
  3. Nói chung trị trên hư (tức dương hư ở trong dương) cũng không thể qua ở dưới (tức dương hư ở trong âm) bởi lẽ đánh bên dưới thì sẽ khô bên trên, tư dưỡng mầm ắt phải tưới vào gốc – cho nên phàm trị trên hư cũng nên kiêm bổ khí huyết hơn, như thang “Thập toàn đại bổ” hay “đại bổ nguyên tiễn”, cùng mọi thuốc bổ âm bổ dương, bổ khí, bổ huyết tùy nghi mà dùng.
  4. Cần phải căn cứ vào chứng hiện ra mà chữa, người có hỏa nên kiêm thanh hỏa, người có đờm nên kiêm thanh đờm, người có khí nên kiêm thuận khí nên tùy cơ ứng biến, nhưng khống gì không lấy trị hư làm trước, còn kiêm trị làm tá vậy.
  5. Đời xưa chữa “Huyễn vậng” cũng nên xét:

Người thấp đờm nhiều sinh “Huyễn vậng” đầu quay cuồng, mắt hoa đen nên dùng “Thang thận trước” thêm Xuyên khung gọi là “thang trừ thấp” hoặc uống “Thang nhị trần”, có hỏa thêm Tửu cầm, kiêm khi hư là tướng hỏa vậy, nên trị đờm trước kiêm thuốc bổ khí dáng hỏa, như ông Đông viên “thang bán hạ bạch truật thiên ma”, cũng là chữa đờm ở tỳ kiêm bổ khí dáng hỏa.

– Có người sớm dậy thấy “Huyễn vậng” phút chốc lại thôi ngay, ngày nào cũng vậy coi như thường lệ, thường dùng “chính nguyên tán” và “Hắc tích đan”. Cảnh Nhạc bảo bài “Hắc tích đan” là loại nặng sa xuống chỉ người khí thực ở trên mới nên dùng, không nên dùng bừa.

– Huyễn vậng đến nỗi không chịu được lấy Đại hoàng tẩm rượu sao nghiền nhỏ, nước trà điều uống – chỉ dùng cho người đờm hỏa ủng tắc ở trên.

– Người có đờm do hàn lạnh do phong, hãy nên dùng bài “Thanh Châu bạch hoàn tử” nhưng phải là người khỏe mạnh, khi thực mới bị, mới dùng được.

c- Phương thang:

  1. Thang tứ quân tử

a) Công dụng: Mạnh tỳ vỵ, ích khí hòa trung tiêu, chữa người tỳ vị hư yếu, khí hư không đủ, thấy mệt mỏi không có sức, mặt vàng, mình gầy, ăn uống giảm ít, đại tiện lỏng sệt, mạch mềm mại không có sức, rêu lưỡi trắng mỏng – Tất cả những người cơ thể hư yếu, sau khi ốm mất điều hòa, hoặc ốm lâu mà thấy chứng như trên đều có thể ứng dụng.

b) Vị thuốc: Nhâm sâm (hoặc Đảng sâm) 8-12 gam, Bạch truật 8-12 gam. Phục linh 12 gam, Chích thảo 4 gam. Ngày 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.

c) Ý nghĩa phương thuốc: Phương này là phương thuốc mạnh tỳ ích khí, nhân sâm bổ khí, phụ có Bạch truật mạnh tỳ vận chuyển thấp. Cam thảo ngọt bình, giúp nhân sâm bổ khí, hòa trung tiêu, phục linh thẩm thấp. Tác dụng toàn phương là bổ khí mà không trệ thấp, xúc tiến cơ năng vận hóa của tỳ vỵ, khiến ăn uống tăng thêm, có lợi cho việc khôi phục sức khỏe.

Thang này chọn 4 loại dược vật, tính chất bình hòa, nên uống lâu không gây nên tác dụng phụ – cho nên “Cục phương” gọi tên là “Thang tứ quân tử” để biểu thị tác dụng hòa bình.

  1. Ngũ quân tử tiễn

a) Công dụng: Trị tỳ vỵ hư hàn nôn mửa ỉa chảy mà kiêm thấp.

b) Vị thuốc: Nhân sâm 8-12g, Bạch truật 8g, Chích thảo 4g, Phục linh 8g, Can khương (sao vàng) 4-8g, nước 1 bát rưỡi sắc uống.

3. Thang qui tỳ.

a) Công dụng: Trị lo nghĩ tổn thương tỳ, không thể giữ máu đi lại đúng đường, dẫn đến máu đi bừa bãi, hoặc nôn máu, ra máu cam, hoặc hay quên, run rẩy sợ sệt, mồ hôi trộm, thích nằm hoặc đại tiện không đều, tâm tỳ đau đớn, sốt rét, lỵ uất kết, hoặc có bệnh dùng thuốc không đúng, khắc phạt mạnh tổn thương tỳ vỵ mà dẫn đến biến chứng.

b) Vị thuốc: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Táo nhân đều 8 gam, Viễn chí, Đương quy đều 4 gam, Mộc hương, Chích thảo đều 2 gam, thêm Long nhãn nhục 7 quả sắc uống.

4. Thang bổ trung ích khí (đông viên)

a) Công dụng: Trị mệt mỏi tổn thương tỳ, khí trung tiêu không đủ, khí dương trong trẻo không lên, ngoại cảm không giải, mình gầy ăn ít, nóng lạnh, sốt rét, lỵ, khí hư không giữ được huyết.

b) Vị thuốc: Nhân sâm, Hoàng kỳ (sao), Bạch truật (sao), Chích thảo đều 10 gam, Dương quy 8 gam, Trần bì 3 gam, Thăng ma, Sài hồ đều 3 gam, thêm gừng táo sắc uống lúc đói trước cơm trưa.

5. Thánh truật tiền:

a) Công dụng: Trị hàn thấp tả lỵ nôn mửa là thuốc thánh.

b) Vị thuốc: Bạch truật 6-7-8 đồng cân hoặc 1-2 lạng, Can khương (sao) 1-2 đồng cân, Nhục quế 1-2 đồng cân, Trần bì: chút ít hoặc không dùng; nước 1 bát to sắc còn 1 bát con uống ấm.

6. Thang bán hạ Bạch truật thiên ma.

Công dụng: Trị “Huyễn vậng” cùng với kinh túc thái âm đờm quyết đau đầu (tức đau đầu do đờm trú ở kinh tỳ).

Vị thuốc: Bán hạ 10g, Bạch truật, Thần khúc đều 7g, Mạch nha, Trần bì đều 10g, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Phục linh, Xương truật, Thiên ma, Trạch tả đều 5g, Hoàng bá 2g, Can khương 3g – giã dập mỗi ngày uống 1 thang chia 2 lần. Uống nóng xa bữa ăn.

7. Ngũ phúc ẩm:

Công dụng: Phàm 5 tạng khí huyết thiếu thốn dùng:

Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) 20 – 30g (cho tâm)

Đương quy 16g (can)

Thục địa (cho thận) 20 – 30g

Bạch truật (sao) cho phế 10g

Chích thảo (cho tỳ) 6g

Thêm gừng tươi 3-5 lát, sắc uống ấm – cần ôn ấm: thêm Can khương, phụ tử – muốn phát tán: thêm Thăng ma, Sài hồ – Cát căn.chữa rối loạn tiền đình

8. Thất phúc ẩm:

a) Công dụng: Trị khí huyết đều hư mà tâm tỳ nặng hơn.

b) Vị thuốc: Tức phương (ngũ phúc ẩm) thêm Táo nhân 10g – Viễn chí 6g.

9. Hữu qui ẩm:

a) Công dụng: Đây là thuốc mạnh chân thủy, phàm mệnh môn âm suy dương thắng nên dùng phương này làm chủ mà thêm bớt.

b) Vị thuốc: Thục địa 16 – 32 gam, Hoài sơn 12 gam, Sơn thù 6 gam, Câu kỳ tử 6 gam, Chích thảo 6 gam, Phục linh 10 gam (Sơn thù du người sợ chua bớt lượng đi) nước 3 bát sắc còn 1 bát uống ấm, xa bữa ăn.

10. Hữu qui ẩm

a) Công dụng: Đây là thuốc mạnh chân hỏa của thận, phàm mệnh môn hỏa suy, âm thịnh nên dùng phương này làm chủ mà thêm bớt.

b) Vị thuốc: Thục địa 16 – 32 gam, Hoài sơn 12 gam, Sơn thù 6 gam, Câu kỳ tử 6 gam, Chích thảo 6 gam, Đỗ trọng (chế gừng) 10 gam, Nhục quế 10 gam, Chế phụ tử 4 – 8 – 12 gam. Nước 2 bát sắc còn 7 phân uống âm xa bữa ăn.

c) Gia giảm:

– Nếu khí hư huyết thoát, hoặc quyết, hoặc ra mồ hôi, hoặc xây sẩm, hư cuồng, ngắn hơi thì thêm Sâm truật lượng cao vào – nếu hỏa suy không thể sinh thổ, sinh ra nôn ọe nuốt chua thêm bào Can khương 8 – 12 gam.

11. Thang tứ vật:

a) Công dụng: Bổ máu, hoạt huyết, điều kinh chữa kinh nguyệt không đều, các chứng huyết hư, hoặc huyết hư mà kiêm có ứ trệ, đều có thể gia giảm sử dụng.

b) – Vị thuốc: Đương qui 12g, Địa hoàng (Sinh địa hoặc Thục địa) 16 – 20 g, Bạch thược 12 g, Xuyên khung 10g.

Ý nghĩa phương này: Thang tứ vật là phương thuốc bổ máu kiêm có thể hoạt huyết. Người xưa nói nó là thuốc chuyên điều huyết cho kinh can, trong phương đương qui bổ huyết hòa huyết. Địa hoàng bổ huyết, tư âm, hai vị này chủ yếu là bổ huyết. Bạch thược nuôi huyết nhu nhuận can, xuyên khung thông hành khí ở trong máu là thuốc hành khí hoạt huyết. Cho nên phương này có đủ công dụng, nuôi máu hoạt huyết hành khí – Chẳng những huyết hư có thể dùng để bổ máu, chứng huyệt trệ cũng có thể thêm bớt vận dụng, đặc biệt là phụ nữ kinh nguyệt không điều hòa trên lâm sàng ứng dụng tương đối nhiều.

Gia giảm:

+ Nếu thấy khí huyết cùng hư có thể thêm Nhâm sâm, Hoàng kỳ.

+ Kiêm có máu ứ có thể thêm Đào nhân, Hồng hoa, Bạch thược đổi làm Xích thược, gọi là “Thang đào hồng tứ vật”.

+ Huyết hư có lạnh thêm Nhục quế, Bào khương đồng thời đem Thục địa đổi làm Sinh địa.

+ Muốn máu đi thông sướng thì bỏ Bạch thược đổi dùng Xích thược, muốn ngừng máu bỏ Xuyên khung đi.

  1. Thang thập toàn đại bổ, tức “Thang tứ vật” cộng với “Thang tứ quân” thêm Hoàng kỳ, Nhục quế. Bài này lực bổ rất lớn, tính thuốc thiên về ôn, thích dùng cho người khi huyết cùng hư, mà chứng hiện ra thiên về hư hàn. Có thuốc viên hoặc cao loại này.
  2. Đại bổ nguyên tiễn:

a) Công dụng: Trị trai gái khí huyết quá kém, tinh thần bạc nhược nguy kịch mọi chứng, đây là phương thứ nhất hồi thiên tán hóa, cứu bản bồi nguyên.

b) Vị thuốc: Nhân sâm (bổ khí bổ dương) 10g đến 30g.

Thục địa (bổ tinh bổ âm) 16g – 40g.

Đương quy 12 (nếu ỉa chảy bỏ đi) – Câu kỷ tử 12g – Chích thảo 4 ÷ 8g, Sơn thù du 4 ÷ 6 g (nếu sợ chua, nuốt chua bỏ đi) nước 2 bát sắc còn 1 bát, uống ấm, xa bữa ăn.

c) Gia giảm: Nếu nguyên dương không đủ, lạnh nhiều thêm Phụ tử, Nhục quế, Bào khương – Nếu phân khí bị hư thêm Hoàng kỳ, Bạch truật, Vỵ khẩu trệ không cần dùng. Nếu huyết trệ thêm Xuyên khung bỏ Sơn thù, nếu dễ ỉa, ỉa chảy (hoạt tiết) thêm Ngũ vị, Phá cố chỉ.

14. Chính nguyên tán:

a) Công dụng: Trị dương hư sinh ra “Huyễn vậng”, đầu quay cuồng mắt hoa đen.

b) Vị thuốc: Hồng đậu (sao), Can khương (nướng) đều 12 gam, Nhân sâm, Bạch truật, Chích thảo, Phục linh đều 60g, Phụ tử (tước bỏ vỏ rốn), Xuyên khung, Hoài sơn (sao gừng), Ô dược, Can cát đều 30g, Xuyên ô (nướng, bỏ vỏ rốn), Nhục quế đều 20g, Hoàng kỳ (nướng 45g, Trần bì 8g, dã dập mỗi lần uống 12g, 3 lát gừng, táo 1 quả sắc uống.

15. Thang thận trước (Tam nhân)

a) Công dụng: Trị thận hư mình nặng, eo lưng lạnh như ngồi trong nước. Không khát, tiểu tiện tư lợi, ăn uống như cũ, dưới eo lưng đau nặng như đeo mấy chục cân.

b) Vị thuốc: Phục linh, Bạch truật đều 120g, Chích thảo, Can khương (nướng) đều 60g, giã thô, mỗi lần uống 16g sắc kỹ, uống lúc đói khi thuốc đã nguội lạnh.

16. Thang thanh châu bạch hoàn tử

a) Công dụng: Trị người phong đờm ủng thịnh, chân tay tê bại, nôn mửa ra rãi bọt, răng cắn chặt, đờm xuyển tê ngứa, cùng trẻ con kinh phong nôn mửa.

b) Vị thuốc: Bán hạ 7 lạng (= 210g), Nam tinh 90g, Bạch phụ tử 60g, Xuyên ô 16g đều dùng sống. Nghiền rất nhỏ cho túi vải ngâm nước cho bột không ra, quấy vào chắt nước lại phơi, lại quấy lên cho nước vào, làm vài lần, sau phơi ngày nắng đêm sương mùa đông 10 ngày, thu 7 ngày, hè 3 ngày, xuân 5 ngày rồi viên bằng hạt đậu xanh, lần uống 20 viên, nước ngừng chiêu thuốc không kể lúc nào, chân tay tê bại dùng rượu chiêu thuốc. Trẻ con kinh phong nước bạc hà chiêu thuốc 5 ÷ 7 viên/lần.

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *