chữa rối loạn tiền đình bằng đông y

Cách chữa bệnh rối loạn tiền đình bằng y học cổ truyền:

I. Phần chẩn đoán cũng dùng: Nhìn, nghe, hỏi, mạch, để xem bệnh thuộc dạng nào? Rồi chia ra Hư, Thực mà chữa.

II. Điều trị rối loạn tiền đình: Trước tiên phải chia Hư và Thực.

1. Chứng thực:

Gồm có người đờm thịnh, hỏa thịnh, phong thịnh.

a) Nếu người chứng đờm thịnh thì phải trừ phong điều đờm đi, như “Thang gia giảm khung Tân đạo đàm”. Hoặc chia ra kỹ hơn như:

+ Thuộc tỳ đờm uống “Thang bán hạ bạch truật thiên ma” có hỏa kiêm thêm Cầm, Liên, Tri, Bá. Rồi thêm thuốc bình can tức phong nhu nhuận như Thiên ma, Câu đằng, Ngọc trúc, Cúc hoa, sắc uống.

+ Thuộc nhiệt đờm uống “Nhị trần thang” thêm Hoàng cầm, tăng lượng, Bán hạ: thêm Trúc lịch, Hoàng liên, Hoàng bá sắc uống.

+ Thuộc phong đờm, hàn đờm uống thang “Thanh châu bạch hoàn tử” và gia thêm các vị bình can tức phong như Câu đằng, Thiên ma, Cúc hoa, Ngọc trúc, sắc uống.

+ Thuộc thấp đờm thì phải trừ thấp điều đờm như “Thang thận trước” giạ thêm Xương truật, Bán hạ và Thiên ma, Câu đằng, Cúc hoa.

b) Nếu người hỏa thịnh áp huyết tăng phải tả hỏa bình can, hạ huyết áp, như bào “gia giảm tả thanh hoàn” gia Hoàng bá, Hoàng liên, Câu đằng, Cúc hoa, Thiên ma, Ngọc trúc, Hoa đại, Hoa hòe, Ích mẫu.

c) Nếu người phong thịnh mà phong nhiệt công lên thì phải trừ thanh nhiệt như “Cúc hoa tán” gia vị Thiên ma, Câu đằng, Thuyền thoái, Bạch tật lê.

2. Chứng hư:

a) Mọi hình thức mất máu, gây nên huyết hư thì phải bổ máu nuôi can như “Thang gia vị tứ vật” thêm Câu đằng, Ngọc trúc, Cúc hoa, Thiên ma. Hỏa thịnh thêm Cầm, Liên, Tri, Bá, Thạch cao…

b) Nếu khí hư nặng, còn cơ thể vẫn hồng hào thì bổ khí dưỡng tâm dùng “Thang tứ quân tử” thâm Hoàng kỳ, Quế chi, Phục thần, Viễn chí, Xương bồ, Dạ giao đằng, Câu đằng, Cúc hoa, Thiên ma.

c) Nếu cả khí huyết cùng hư thì phải bổ khí nuôi huyết như “Thang thập toàn đại bổ” thêm vị thuốc Bình can tức phong như Câu đằng, Sài hồ, Cúc hoa, Thiên ma.

d) Nếu khi thận hư không nạp khí về nguồn hoặc thận dương hư mệnh hỏa suy thì tôi tư dưỡng thận hàm can dùng bài “Thủ trung hoàn” gia thỏ ty tử, Phá cố chỉ, Nhục thung dung, Nhục quế, Cúc hoa, Câu đằng, Thiên ma, Ngũ vị tử hoặc dùng bổ thận tráng dương tức phong bài “Chính nguyên đan” làm thang, thêm Ngọc trúc, Cúc hoa, Thỏ ty tử, Phá cố chỉ, Ngũ vị, Câu đằng, Nhục dung, hoặc dùng “Thang bát vị” “Hữu qui hoàn” uống xen kẽ với “Thang bổ trung ích khí” để bổ tỳ phế của Hậu thiên.

e) Nếu thận âm hư phong hỏa bốc lên tôi dùng “Thang lục vị” hoặc “Tả qui hoàn” thêm Ngưu tất, Ngũ vị, Địa cốt bì, Tri mẫu, Hoàng bá, Cúc hoa, Câu đằng, Thiên ma.

Hoặc dùng “Thang lục vị” hoặc “Tả qui hoàn” uống xen vào với “Thang qui tỳ” để bổ tâm can thêm.

  1. Phương thang:

3.1 Thang gia giảm khung tân đạo đàm

Vị thuốc:

Chế bán hạ 12 – 16 gam; Trần bì 12 gam; Bạch linh 12 – 16 gam, Cam thảo 4 – 6 gam; Chỉ thực 12 gam; Chế nam tinh 8 gam.

Thiên ma 12 gam, Mạn kinh 8 gam, Câu đằng 12 gam.

Cúc hoa 8 gam, Ô dược 8 gam, Các cánh 12 gam.

3.2 Thang bán hạ bạch truật thiên ma gia vị.

Hoàng bá 12 gam, Hoàng kỳ 16 gam, Can khương 4 – 6 gam, Đảng sâm 16 gam.

Trạch tả 12 gam, Xương truật 10 gam, Bạch linh 12 gam, Thần khúc 10 gam.

Thiên ma 10 gam, Bạch truật 12 gam, Bán hạ 16 gam, Quất hồng 12 gam.

Câu đằng 12 gam, Ngọc trúc 12 gam, Cúc hoa 8 gam, Gừng tươi 3 lát sắc.

Nếu có hỏa thêm Hoàng cầm 16 gam, Chi tử 12 gam; Hoàng liên 8 gam.

3.3 Thang thanh châu bạch hoàn tử gia vị

Bán hạ chế 16 gam; Nam tinh 10 gam; Quế chi 8 gam.

Bạch phụ tử chế 4 – 6 gam, Xuyên ô chế 2 – 4 gam.

Câu đằng 10 gam, Mạch đông 12 gam, Thiên ma 8 gam, Trần bì 10 gam.

Cúc hoa 8 gam, Sinh địa 12 gam, Ngọc trúc 10 gam, Cát cánh 12 gam.

Đương qui 16 gam, Đảng sâm 16 gam

Sắc uống.

3.4 Thang thận trước gia vị

Phục linh 20 gam, Bạch truật 20 gam, Chích thảo 10 gam.

Can khương 10 gam, Xương truật 16 gam, Bán hạ 16 gam.

Thiên ma 12 gam, Châu đằng 12 gam, Cúc hoa 8 gam.

Trần bì 10 gam, Tế tân 10 gam.

3.5 Gia giảm tả thanh hoàn

a- Công dụng: Trị huyễn vậng do can hỏa bốc, váng đầu do cao huyết áp, khí thực ỉa rắn kết, mạch 3 bộ huyền cứng mà to, nhiệt cao.

b- Dược phẩm: Phòng phong, Long đởm thảo, Chi tử, Đại hoàng, Hoàng cầm, Ngưu tất, Sinh địa, Sài hồ, Thạch cao (30 gam) đều 10 gam. Mộc thông 20 gam.

c- Xét: Phương này vốn là phương “Tả thanh hoàn” của Tiền Ất, dùng chữa can đởm thực nhiệt, nhiều kinh sợ, không nằm ngủ yên, mắt nhìn chếch ngược, lòng đen nhỏ, lòng trắng thì xanh đỏ sưng đau, đại tiện không thông, ỉa ra máu, trẻ con cấp kinh co rút, đờm nhiệt, mắt nhìn thẳng trừng trừng. Gồm có các vị:

– Đương qui, Long Đởm thảo, Xuyên khung, Chi tử, Đại hoàng, Khương hoạt, Phòng phong, lượng bằng nhau cùng nghiền nhỏ luyện mật làm viên như hạt khiếm thực, mỗi lần uống nửa viên đến 1 viên, sắc nước là tre hòa đường uống với thuốc.

– Nay bỏ Đương qui, Xuyên khung, Khương hoạt gia thêm Hoàng cầm, Ngưu tất, Sinh địa, Sài hồ, Thạch cao, Mộc thông mà tổ chức nên phương này. Vì Long đởm, Chi tử, Hoàng cầm tả cái hỏa thịnh ở trên, Đại hoàng cho đi đại tiện để dẫn hỏa xuống, Ngưu tất hoạt huyết dẫn máu đi xuống, khỏi xung ngược lên đầu mặt, Phòng phong để dẫn máu trừ phong ở trên, sài hồ để bình can khí, giúp thêm cho Long đởm, Sinh địa làm mát máu, Mộc thông tiêu cái hỏa nhiệt theo đường tiểu tiện. Thạch cao tả vỵ hỏa, Vì vỵ là cái bể của kinh mạch, tả vỵ hỏa thì cái hỏa của các kinh cũng được ảnh hưởng mát lây, nên những chứng hỏa thịnh, can hỏa bốc, khí thực, nhiệt kết nên dùng.

3.6 Thang gia vị tứ vật

Công dụng: Trị đàn bà huyết hư, phát sốt.

Dược phẩm: Thục địa hoàng, Đương qui thân, Bạch thược, Xuyên khung, Bạch truật, Phục linh, Sài hồ, Mẫu đơn bì (một phương không Bạch truật, Phục linh, có Sơn chi) nước trong sắc uống.

3.7 Thang tứ quân tử gia vị

Đảng sâm 16 gam, Bạch truật 16 gam, Cam thảo 6 gam.

Bạch linh 12 – 16 gam, Viễn chi 12 gam, Xương bồ 12 gam.

Dạ giao đằng 12 gam, Câu đằng 10 gam, Cúc hoa 8 gam, Phục thần 12 gam.

Thiên ma 10 gam, Hoàng kỳ 12 gam, Quế chi 12 gam.

3.8 Thang thập toàn đại bổ

Thang thập toàn đại bổ, tức “Thang tứ vật” cộng với “Thang tứ quân” thêm Hoàng kỳ, Nhục quế. Bài này lực bổ rất lớn, tính thuốc thiên về ôn, thích dùng cho người khi huyết cùng hư, mà chứng hiện ra thiên về hư hàn. Có thuốc viên hoặc cao loại này.

3.9 Thủ trung hoàn

a) Công dụng: Trị bệnh chứng đầu xây sẩm quay cuồng, mắt hoa, thốt nhiên ngã nhào.

b) Vị thuốc: Nhân sâm, Bạch truật, Cam cúc hoa, Câu kỷ tử, Sơn dược, đều 2 lạng. Bạch linh (bỏ vỏ) 10 lạng, Mạch môn đông (bỏ lõi) 3 lạng. Sinh địa hoàng 12 cân (nấu lấy nước).

c) Cách chế: Nghiền nhỏ, trước dùng nước sinh địa đun trong nồi bạc cho dấm 3 lạng, đường trắng 3 lạng cùng đun, dần dần đặc lại hơn 5 thăng, đem bột thuốc trên sao qua cho dần vào, đảo đều nhiều lần đun nhỏ lửa tới cạn, viên to như hạt ngô đồng ngày xưa cụ thường chọn ngày giáp tý, hoặc ngày vượng tướng của 4 mùa mới viên lại.

d) Cách dùng: Mỗi lần uống 50 viên, lúc đói bụng rượu ấm đều uống, sau 100 ngày uống thì 5 tạng đầy đủ, cơ phu trơn nhuận, da dẻ đẹp đẽ.

3.10 Chính nguyên đan

a) Công dụng: Trị mệnh môn hỏa suy, không có thể sinh ra thổ, nôn ỉa, chân tay lạnh, lúc có âm hỏa xung lên thì đầu mặt nóng đỏ “Huyễn vậng” buồn nôn, hoặc khí đục ngược lên đầy tức nên ngực sườn đau chói, vùng bụng chướng đầy.

b) Vị thuốc: Nhân sâm 3 lạng (dùng Phụ tử 1 lạng nấu nước ngâm vào, rồi bỏ Phụ tử), Hoàng kỳ 1,5 lạng (dùng Xuyên khung nấu nước ngâm vào rồi bỏ Xuyên khung), Hoài sơn 1 lạng (dùng Can khương 3 đồng cân đun rồi ngâm vào, bỏ Can khương), Bạch truật 2 lạng (nấu Vỏ quít ngâm bỏ vỏ quít), Cam thảo 1,5 lạng (dùng Ô dược nấu nước ngâm, bỏ Ô dược), Phục linh 2 lạng (dùng Quế 6 đồng cân sắc nước ngâm, bỏ Quế). Trừ phục linh ra còn tất cả đều dùng lửa vừa phải đun cho khô, chớ để tổn hại tính thuốc, tán bột. Mỗi lần uống 3 đồng cân, nước trong 1 chén, thêm gừng tươi 3 lát, táo đỏ 1 quả, sắc vài lần sôi cho chút ít muối, uống cả bã, uống rồi uống một ngụm rượu nóng giúp thêm sức cho thuốc.

3.11 Thang bát vị, Hữu qui hoàn

Hữu quy hoàn: (cảnh nhạc toàn thư)

a) Công dụng: Ôn bổ thận dương, điền bổ tinh huyết.

b) Chứng thích ứng: Thận dương không đủ, mạnh môn hỏa suy tuổi già, bệnh lâu mà xuất hiện khí khiếp sợ, thần mỏi mệt, sợ lạnh, chân tay lạnh, dương suy, hoạt tính, eo lưng, gối mềm đau.

c) Vị thuốc: Thục địa 8 lạng, Hoài sơn 4 lạng, Sơn thù du 3 lạng, Câu kỷ tử 4 lạng, Đỗ trọng 4 lạng, Thỏ ty tử 4 lạng, Chế phụ tử 2-6 lạng, Nhục quế 2-4 lạng, Đương quy 3 lạng, Lộc giác giao 4 lạng, giã nhỏ.

Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 đồng cân. Có thể làm thuốc thang sắc uống với liều lượng thích hợp.

d) Nhận xét: Phương này từ bài “Quế phụ bát vị hoàn” mà hóa sinh ra cũng trên cơ sở bài “Tả qui hoàn” mà lập ra nữa, bài “Tả qui hoàn” bỏ Ngưu tất, Qui bản giao, thêm vào Phụ tử, Nhục quế, Đương qui, Đỗ trọng. Phương này cùng bài “Quế, phụ bát vị hoàn”. Tuy cùng là ấm thận mạnh dương, cũng cùng là trên cơ sở bổ ích thận âm thêm vào Quế phụ mà thành ra thuốc bổ ích hỏa. Nhưng 2 phương đó có điều khác biệt ở chỗ: bài “Quế phụ bát vị hoàn” là trong bổ ngụ ý có tả, mà phương này là bổ mà không tả, vả lại có Lộc giác giao, Đương qui bổ xung tinh huyết. Câu kỷ tử, Thỏ ty, Đỗ trọng để ôn dưỡng can thận, cho nên sức ôn thận mạnh dương tương đối mạnh, thích hợp dùng cho chứng dương hư hỏa suy tương đối nghiêm trọng. Người xưa nhận định rằng bài “Quế phụ bát vị hoàn” là “Bổ ích cái nguồn hỏa để tiêu tan mây mù” mà phương này là “phù giúp dương để phối hợp với âm”. Còn như phương này cùng “Tả qui hoàn” khác nhau ở chỗ: “Tả qui hoàn” nặng về điền xung tinh huyết, mà phương này nghiêng nặng về “làm ấm và mạnh thận dương”

Bát vị hoàn (kim quĩ thận khí hoàn) (Kim quĩ yếu lược)

  1. a) Công dụng: Ổn bộ thận dương
  2. b) Chứng thích ứng: Người thận dương không đủ, bụng dưới eo lưng, gối lạnh đau, tiểu tiện không thông lợi, hoặc không cầm được, hoặc ban đêm đi tiểu nhiều lần, cùng với đờm ẩm suyễn ho, đái đường, thủy thủng phù sưng, đi tả (ỉa chảy) lâu ngày thấy có chứng thận dương hư suy.
  3. c) Vị thuốc: Thục địa 8 lạng, Hoài sơn 4 lạng – Sơn thù du 4 lạng. Phục linh 3 lạng – Đơn bì 3 lạng – Quế chi 1 lạng, Phụ tử 1 lạng.

Đây là liều lượng nguyên phương thuốc hoàn viên, còn muốn làm thuốc thang cho uống thì, tùy người mà cho liều lượng thích đáng sắc uống.

  1. d) Ý nghĩa phương thuốc: Phương này dùng Quế phụ làm vị thuốc chủ yếu, đây là phương thuốc bổ thận đã dùng từ lâu đời. “Thang lục vị địa hoàng” và các loại “địa hoàng hoàn” đều từ phương này biến hóa ra. Phương này mục đích là ôn bổ thận dương, cớ sao trong phương lại dùng Địa hoàng, Sơn thù là vị thuốc thuộc âm? Đó là vì thận âm thận dương đều có quan hệ tương hỗ, cùng hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau. Tức ý là “Âm dương hỗ căn” người khéo bổ dương tất phải tìm dương ở trong âm.

3.12 Thang lục vị địa hoàn hoàn – Tả qui hoàn.

Lục vị địa hoàng hoàn = lục vị hoàn (tiểu nhi dược chứng trực quyết)

  1. a) Công dụng: Tư dưỡng bồi bổ chân âm của can thận.
  2. b) Chứng thích ứng: Các loại bệnh mạn tính, mà trong quá trình xuất hiện chứng can thận không đủ, thận âm thiếu thốn, eo lưng đầu gối yếu đau, Huyễn vậng, tai ù, di tinh, đái đường cùng với trẻ em phát triển cơ thế không tốt – Trên lâm sàng đối với chứng cảm nhiễm đường niệu mạn tính, bệnh đái đường, bệnh cao huyết áp, cùng với thần kinh suy nhược mà biểu hiện chứng hậu can thận âm hư phần nhiều dùng phương này làm cơ sở thêm bớt ứng dùng.
  3. c) Vị thuốc: Thục địa hoàng 8 lạng, Sơn thù du 4 lạng, Hoài sơn 4 lạng, Trạch tả 3 lạng, Đan bì 3 lạng, Phục linh 3 lạng.
  4. d) Cách dùng: Nếu là viên mỗi ngày uống từ 2 đến 4 đồng cân chia 2 lần, nước muối điều uống – có thể dùng liều lượng thích hợp cho làm thuốc thang sắc uống.
  5. e) Ý nghĩa phương thuốc: Đặc điểm của phương này là trong bổ có tả, mà lấy bổ âm làm chủ yếu, trong phương lấy Thục địa để điền tinh bổ ích tủy, tư âm bổ thận mà sinh ra máu.

Sơn thù du ôn bổ can thận, thu sáp tinh khí. Hoài sơn mạnh tỳ kiêm trị di tinh, són đái, phương này gồm có “3 thứ bổ” nhưng lấy Thục địa bổ thận là chủ yếu. Sơn thù bổ gan, Hoài sơn bổ tỳ là phụ, cho nên lượng dùng Thục địa gấp hẳn Hoài Sơn và Sơn thù. Đan bì làm mát máu, mát cái nóng mà tả cái hỏa của can thận. Trạch tả phục linh lợi thủy thỏm thấp, thế là phương này lại có “Ba cái tả” – Bởi vì phương này lấy bổ làm chủ cho nên ba loại thuốc để tả liều lượng dùng nhẹ hơn. Song sự phối ngũ và liều lượng của từng vị không phải là cố định, không thảy đổi, có thể căn cứ thực tế lâm sàng cần thiết mà biến hóa thay đổi. Ví dụ: nếu cần bổ ích thận bổ âm thì theo nguyên phương không cần thay đổi, nếu chữa di tinh đầu quay cuồng xây sẩm làm chính thì tăng thêm lượng Sơn thù và Sơn dược (Hoài sơn) – Nếu âm hư mà kiêm có máu nóng, hoặc hỏa vượng thì tăng lượng cho Đơn bì lên, còn Thục địa đổi làm Sinh địa, nếu thận hư phù sưng hoặc thấp nhiệt rót xuống thấy tiểu tiện sít đau, có thể tăng thêm lượng Trạch tả bạch linh. Đó là nói cái thay thế theo các vị thuốc trong phương, ngoài ra còn có thể thêm các vị thuốc khác cho phù hợp chứng bệnh hiện có của người bệnh cho mau chóng lành bệnh. Đó là bàn tay khối óc vàng của thầy thuốc biết tùy chứng mà thêm bớt cho phù hợp bệnh tình Chữa bệnh rối loạn tiền đình bằng y học cổ truyền

Tả qui hoàn: (Cảnh nhạc Toàn thư)

  1. a) Công dụng: Bổ can thận, ích tinh huyết. Chữa bệnh lâu ngày quá suy hoặc sau khi bệnh nặng vừa khỏi, người già can thận tinh máu hư tổn, hình thể gầy róc, eo lưng đầu gối mềm yếu đau đớn “Huyễn vậng”, di tinh.
  2. b) Vị thuốc: Thục địa 8 lạng, Sơn dược 4 lạng, Sơn thù du 4 lạng, Thỏ tỵ tử 4 lạng, Câu kỷ tử 4 lạng, Ngưu tất tốt 3 lạng, Lộc giác giao (keo sừng hươu) 4 lạn, Qui bản giao (keo mai rùa) 4 lạng, viên với mật, mỗi lần uống 1-2 đồng cân, ngày uống 1-2 lần, nước muối nhạt đưa thuốc – cũng có thể đổi làm thang cho liều lượng vừa phảo sắc uống.
  3. c) Phương giải:

Phương này vốn là từ bài “Lục vỵ địa hoàng hoàn” mà hóa sinh ra, không dùng Đơn bì mát máu tả hỏa nữa, không dùng Bạch linh thảm đạm lợi thủy nữa, mà dùng Thỏ tỵ tử, Câu kỷ tử để bổ tinh huyết, Ngưu tất tốt để mạnh gân cốt. Cho nên phương này tác dụng bổ ích can thận mạnh hơn “Lục vị địa hoàng hoàn” nhiều, người xưa cho rằng: Bài lục vị là mạnh thủy để chế bớt hỏa, bài tả qui là nuôi âm để nâng đỡ dương. Phương này là một phương pháp “tinh không đủ thì dùng vị mà bổ”. Dùng chữa người can thận tinh huyết hư tổn mà sinh ra nóng bên trong, máu nóng, hỏa vượng mà ăn uống vẫn tạm bình thường là thích nghi.

3.13 Thang quy tỳ

  1. a) Công dụng: Trị chứng lo nghĩ tổn thương Tỳ, huyết hư phát sốt ăn ít thân thể mỏi mệt, hoặc Tỳ hư không thể giữ được máu sinh ra, sinh ra máu đi trái đường, nôn máu ỉa máu. Hoặc là hay quên. Tìm run rẩy rung động, sợ hãi ít ngủ – hoặc Tâm Tỳ đau, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, hoặc chân tay mình mẩy sưng đau, đại tiện không đều, hoặc đàn bà kỳ kinh không chuẩn sốt chiều, nóng bên trong, hoặc có mang mà uất kết tổn thương Tỳ…
  2. b) Vị thuốc: Quy thân 1 đồng cân, Nhân sâm, Bạch linh (có nơi dùng Phục thần), Hoàng kỳ (sao, 1 nơi làm 1,5 đồng cân), Bạch truật (sao đất, 1 nơi nấu kỹ), Long nhãn nhục (1 nơi là Quế nhục), Toan táo nhân (sao nghiền) đều 2 đồng cân, Thanh mộc hương, Cam thảo (nướng) đều 5 phân, Viễn chí (bỏ lõi) 1 đồng cân (1 phương không Nhân sâm, Đương qui).
  3. c) Cách dùng: Thêm Gừng tươi 3-5 lát, Hồng tảo 1-2 quả, nước trong sắc uống ấm không kể lúc nào. Trẻ con nóng lở mẹ con cùng uống.
  4. d) Lời bàn: Tâm chứa thần mà sinh ra máu, Tỳ chứa ý mà thống nhiếp máu, lo nghĩ quá độ thì 2 tạng bị thương mà máu chẳng về kinh, máu ở tâm không đủ thì hay quên, rung động run rẩy, sợ hãi không ngủ. Tỳ máu không đủ thì ăn ích thích nằm, thân thể mỏi, chân tay rã rời, không thể thống nhiếp được máu, dẫn đến máu đi càn – nặng hơn thì khí uất mà Tâm Tỳ bị đau, ở phụ nữ thì khí hư mà kinh nguyệt không đều. Bài này dùng Sâm, Linh, Kỳ, Truật, Chích thảo ngọt ấm có thể bổ Tỳ, Tỳ vỵ là biểu lý, nên có công hiệu làm mạnh Vỵ. Long nhãn, Táo nhân, Qui thân, Viễn chí nhu nhuận có thể nuôi tâm, còn có tác dụng cường tráng và chấn tĩnh. Giúp thêm dùng Mộc hương bởi vì lo nghĩ tổn thương, tam tiêu khí trở tắc, nhờ Mộc hương tuyên sướng, điều khí thư rãn Tỳ thì khí hòa mà huyết hòa, vả lại bình can có thể thực tỳ mà huyết tan ở ngoài, tất nhiên sẽ về trung châu mà nghe thái âm tỳ cố nhiếp huyết vậy. Vì thế người xưa đặt tên là Qui Tỳ. Mộc hương còn có thể khiến tinh thần sảng khoái. Quy thân còn bổ xung cho thiếu máu nữa. Vì vậy phương này chữa các loại ra máu, như ruột ra máu, tử cung ra máu, dạ dày vỡ lở, đái ra máu v.v… Ngoài ra còn chữa hay quên, mất ngủ, tâm rung tăng tiến kiếu thần kinh, không thích ăn, kinh nguyệt không đều, bệnh hystéria, thần kinh suy nhược, di tinh, bệnh “lâm” mạn tính, bệnh hạch, mạch lươn – nếu bệnh nhân có dạng sốt thì thêm Sài hồ, Chi tử vào gọi tên là “Thang gia vị qui tỳ”.

    chữa rối loạn tiền đình bằng đông y
    Chữa bệnh rối loạn tiền đình

III. Mạch và triệu chứng để chẩn đoán rối loạn tiền đình

  1. Khí hư: Toàn thân mệt mỏi không có sức, bứt dứt, lưỡi bệu mà nhợt, mạch trầm tế sác, hâm hấp sốt.
  2. Khí huyết cùng hư: Sắc mặt trắng khô, tinh thần mệt mỏi, không có kinh, lưỡi nhợt không rêu, mạch trầm tế vô lực, hoặc mạch tiểu hay tế mà vi.
  3. Thận âm hư: Gan bàn tay bàn chân nóng, họng khô ráo, mắt đỏ mình gầy, da thân thể nóng khô, mạch tế sác.
  4. Thận dương hư: Thân thể gầy mòn, bàn chân bàn tay thường lạnh, mạch hạ thấp, môi thâm, lưỡi nhọt bệu, có lúc phù kín mắt cá nhân, mí mắt; không đủ sức làm việc, mạch trầm tế vô lực.
  5. Huyết hư hỏa thịnh: Mạch phần nhiều trầm sác, trầm hoạt, hoặc hồng khâu.
  6. Khí hư đờm thịnh: Mạch phần nhiều trầm nhu, trầm sáp, hoặc trầm trì.
  7. Thực đờm thực hỏa: Mạch huyền thực có lực, miệng phiền khát, người khỏe. Hễ thấy mạch huyền, hoạt, sác đó là đờm hỏa xông lên. Chứng của đờm hỏa xông lên là: Người béo khỏe mà có thâm phiền, miệng khát, ỉa rắn kết.

Chữa bệnh rối loạn tiền đình bằng y học cổ truyền

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *