chẩn đoán rối loạn tiền đình

CHẨN ĐOÁN RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH

Cần căn cứ vào bệnh lịch và thể chất bệnh nhân, chứng trạng hiện có của bệnh nhân mà chẩn đoán rối loạn tiền đình.

  • ĐỐI VỚI BỆNH LỊCH: (Lịch sử bệnh tật) cần chú ý mấy điểm
  1. Có bị phong, hàn, thử, thấp làm tổn thương không? Có bị ngoại cảm lục dâm gì sinh ra rối loạn tiền đình không?
  2. Trên phương diện cảm tình, tinh thần có gì khiến biến hóa khác thường không? Nhất là lo nghĩ, giận dữ, bi ai… vì nội thương thất tình có thể gây ra rối loạn tiền đình.
  3. Có nghiện rượu, bồ bịch túng dục, bừa bãi không? Vì rượu gái quá độ có thể gây rối loạn tiền đình (Huyễn vậng).
  4. Có bị ngã từ cao xuống và bị đánh đập vấp ngã không?
  5. Có bị nôn ra máu, mũi ra máu, ngoại thương cháy máu – con gái băng huyết, sau đẻ mất máu nhiều không? Hiện nay khí hư, huyết hư không?
  6. Đã chữa ai? Những đâu chữa? Uống thuốc gì? Xem có chữa lầm thuốc không? Hay uống nhiều thuốc ứng chế thần kinh không?
  7. Gia đình có ai bị rối loạn tiền đình không? Gan và thận người bệnh có bình thường không? Hay gan thận không làm đủ chứ năng của nó, vì gan thận kém có thể gây nên rối loạn tiền đình.

ĐỐI VỚI CHỨNG TRẠNG BỆNH VÀ THỂ CHẤT BỆNH NHÂN.

Chẩn đoán nhìn:

a) Hình thể: béo hay gầy? Người béo rối loạn tiền đình đa phần thuộc khí hư đờm thịnh, người gầy phần nhiều thuộc huyết hư hỏa thịnh.

b) Sắc mặt: Mặt đỏ, môi đỏ thuộc đờm thực, hỏa thịnh.

Sắc mặt tro sám tối, môi miệng xanh trắng phần nhiều thuộc khí hư huyết hư.

c) Thần chí: Tinh thần ý thức sáng suốt, động tác như thường là bệnh nhẹ, tinh thần ý thức không sáng suốt, động tác không ổn định bệnh nặng, thần thức ý chí không sáng suốt, chân tay cựa quậy lung tung hoặc thấy sắc mặt như dạng say là bệnh nguy.

d) Nhìn lưỡi: Chất lưỡi tươi đỏ, rêu lưỡi vàng khô dầy nhờn, phần nhiều thuộc âm hư hỏa thịnh, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc nhầy dầy, hoặc sám đen trơn nhuận, phần nhiều thuộc dương hư đờm thịnh.

Chẩn đoán nghe:

Thở hít đều đặn, nói năng không rối loạn là nhẹ; thở hít ngắn gấp, hơi ngắn tiếng nhỏ là nặng; hít thở khó khăn, ngực dô cao, đờm rãi trào ra, nói năng lộn xộn là bệnh nguy.

Chẩn đoán hỏi bệnh: Cần hỏi chứng trạng tự họ cảm thấy đang diễn ra.

a) Hỏi nóng lạnh: Rối loạn tiền đình kiêm có phát sốt sợ lạnh phần nhiều thuộc ngoại cảm lục dâm sinh ra. Trong đó phát sốt sợ lạnh, có mồ hôi là ghé phong, phát sốt sợ lạnh mình đau không mồ hôi là ghé hàn. Phát sốt không sợ lạnh, phiền muộn miệng khát là ghé thử (nắng nóng). Toàn thân khớp đốt nhức đau nặng trệ là ghé thấp.

b) Hỏi đại tiểu tiện: Bệnh nhân ỉa táo, đái vàng đỏ phần nhiều thuộc âm hư hỏa thịnh, đại tiện bình thường hoặc sột sệt, tiểu tiện trong trắng hoặc ngắn ít phần nhiều thuộc khí hư đờm thịnh.

c) Hỏi cái sở thích và cái bệnh nhân ghét:

Bệnh nhân rối loạn tiền đình nếu đầu mặt thích ấm, lấy tay ấn huyệt phong trì, bách hội, 2 thái dương họ thấy dễ chịu phần nhiều thuộc khí hư, nếu ấn vùng đầu các huyệt trên thấy không đổi biến gì hoặc thêm nặng phần nhiều là thuộc đờm hỏa.

chẩn đoán rối loạn tiền đình
chẩn đoán rối loạn tiền đình

Xem mạch chẩn đoán rối loạn tiền đình.

a) Nói chung mạch tượng: Người rối loạn tiền đình biến hóa rất lớn, người khí hư đờm thịnh mạch phần nhiều trầm nhu, trầm sáp hoặc trầm trì – Người huyết hư hỏa thịnh, mạch phần nhiều trầm sác, trầm hoạt hoặc hồng khâu. Mạch tượng rối loạn tiền đình nói chung lấy trầm hoãn là quý, nếu mạch thấy phù huyền táo cấp đó là biểu thị bệnh nặng.

– Có người xem mạch tượng Huyền sác là chứng thực nhiệt, phù hợp với sắc mặt, trào hồng (rậng đỏ) dễ là chứng can hỏa quyết nghịch bốc lên trên.

– Nếu người sắc mặt xanh trắng, mạch nhỏ bé nhẹ nhanh đều là chứng hư, như chứng rối loạn tiền đình do thiếu máu não.

b) Trần Tu Viên thì xem mạch như sau:

+ Ở thốn khẩu mạch hoạt mà có vẻ bền chặt cứng rắn, đó là trên thực thì theo phép chữa của Đan Khê dùng đại hoàng tẩm rượu mà chữa.

+ Ở thốn khẩu mạch đại (to) tiếp vào là tan ngay, đó là trên hư dùng lộc nhung ngâm rượu uống.

+ Nếu thốn khẩu mạch vi (nhỏ) dùng “thang bổ trung ích khí”, hoặc “hoàng kỳ bạch truật” sắc đặc thành cao cho bột bán hạ vào mà uống.

+ Mạch tay trái sác là nóng nhiều, mạch sáp là có máu chết, phù huyền là can có phong. Tay phải hoạt thực là đờm tích, mạch đại (to) là bệnh lâu, mạch hư, đại (to) là khí hư

Nay xét chẩn đoán bệnh rối loạn tiền đình:

Tôi nghĩ muốn tốt bên trên ắt phải tưới ở dưới gốc, cho nên cần quan tâm tới “Thủy, hỏa” mà chữa. Như những bài “chính nguyên đan” “lục vị hoàn” “bát vị hoàn” “tả qui hoàn” “hữu qui hoàn” nên phân biệt mà bổ, ví dụ: xích trái vô lực là thủy hư dùng “Lục vị hoàn” hoặc “Tả qui hoàn” đồng thời gia thêm các vị cố sáp để bổ tinh huyết cho tiên thiên và “Thang qui tỳ” để bổ tâm can thêm – Nếu xích phải vô lực là hỏa hư phải dùng “bát vị hoàn” hoặc “Hữu qui hoàn” lại gia thêm các vị cố sáp, hoặc thang “Bổ trung ích khí” để bổ vùng tỳ phế của hậu thiên. Tại sao vậy? Vì ất và quí vốn cùng nguồn, trị thận tức trị gan, trị gan tức là để làm tắt phong vậy, tắt phong tức là giáng hỏa xuống, giáng hỏa tức là trị đờm, cái lý rất thần diệu. Trong các phương tùy tình hình mà thêm các vị như: Câu đằng, Ngọc trúc, Cúc hoa, Thiên ma là vật phẩm nhu nhuận tắt phong không cương táo, sẽ thu công chắc chắn vậy.

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *